Nghiên cứu kinh tế

1.1 Tổng quan lý thuyết về lạm phát

1.1.1 Định nghĩa về lạm phát và cách đo lường

Lạm phát (inflation) là sự tăng lên của mức giá chung theo thời gian” (Mankiw, 2003). Định nghĩa này hàm ý rằng lạm phát không phải là hiện tượng tăng giá của một vài hàng hoá, hay một một nhóm hàng hoá nào đó. Và nó cũng không phải là hiện tượng giá cả chung tăng lên một lần duy nhất. Lạm phát hàm ý rằng giá cả phải tăng lên một cách “liên tục”. Nếu sự tăng lên một lần của giá cả thì hiện tượng này chỉ dừng lại như là một cú sốc về giá chứ chưa phải lạm phát. Vậy, như thế nào là giá cả chung và như thế nào là tăng giá 1 lần ?

Để hạn chế các tranh luận không cần thiết, Các nhà kinh tế đưa ra các định nghĩa “rõ ràng” hơn như  lạm phát cơ bản (core inflation)[1] hay lạm phát cơ sở (underlying inflation). Với cách tính các chỉ số lạm phát này, bằng nhiều phương pháp thống kê khác nhau, các nhà thống kê đã loại trừ được các biến động nhất thời như các cú sốc về giá dầu, yếu tố thời tiết … để thấy được xu hướng cơ bản và ổn định của giá.

Về cách tính, lạm phát là phần trăm thay đổi của chỉ số giá chung trong nền kinh tế theo từng giai đoạn, nó có thể là từng tháng, từng quý hoặc từng năm. Để đo lường mức giá chung này, các nhà thống kê sử dụng hai chỉ số giá để đo lường. Thứ nhất là chỉ số giá tiêu dùng (CPI – Consumer Price Index) và thứ hai là GDP điều chỉnh (GDP deflator).

Cả hai chỉ số này đều tính toán dựa trên mức giá trung bình có  trọng số của toàn bộ hàng hoá và dịch vụ trong nền kinh tế. Sự khác biệt về cách tính của 2 chỉ số này là quan điểm của rổ hàng hoá làm trọng số tính toán.

Chỉ số giá tiêu dùng (CPI) là tỷ số phản ánh giá của một rổ hàng hoá trong nhiều năm so với chính giá của rổ hàng hoá đó ở một năm nào đó. Trong thống kê người ta gọi đó là năm cơ sở hay năm gốc (based year). Tức là, rổ hàng hoá được lựa chọn để tính giá là không thay đổi trong nhiều năm. Chỉ số giá này phụ thuộc hoàn toàn vào năm được chọn là năm gốc và sự lựa chọn của rổ hàng hoá tiêu dùng. Như vậy chỉ số giá CPI này có một số nhược điềm. Thứ nhất, mức độ bao phủ của chỉ số giá này chỉ giới hạn ở một số hàng hoá tiêu dùng được chọn trong rổ hàng hoá, do vậy nó không thể hiện được biến động của những loại hàng hoá khác nhau. Thứ hai, rổ hàng hoá này thường được xây dựng dựa trên tỷ phần chi tiêu đối với hàng hoá thiết yếu của dân thành thị do đó nó không thể hiện đầy đủ và không phản ánh đúng cơ cấu chi tiêu khác nhau trong toàn xã hội, đặc biệt là ở những nước mà có sự phân hoá giàu nghèo giữa dân nông thôn và dân thành thị lớn. Thứ ba, do tỷ trọng hàng hoá lá cố định ở một năm gốc nên sẽ không phản ánh được sự thay đổi trong cơ cấu hàng hoá tiêu dùng cũng như sự thay đổi trong chi tiêu của người tiêu dùng cho các hàng hoá khác nhau theo thời gian.

Chỉ số giá GDP điều chỉnh (GDP Deflation) thì ngược lại với Chỉ số giá tiêu dùng (CPI), là tỷ số phản ánh giá của một rổ hàng hoá trong nhiều năm so với giá của chính rổ đó nhưng với giá của năm gốc. Như vậy có thể thấy rằng hàng hoá được chọn để tính giá là có sự khác biệt trong giai đoạn tính toán. Về cơ bản, sự khác biệt giữa các rổ hàng hoá trong các thời điểm tính giá là không nhiều bởi vì cơ cấu tiêu dùng của người dân thường mang tính ổn định trong ngắn hạn.

Chỉ số giá GDP điều chỉnh là chỉ số giá có mức bao phủ rộng nhất. Nó bao gồm tất cả các hàng hoá và dịch vụ được sản xuất trong nền kinh tế và trọng số tính toán được điều chỉnh tuỳ thuộc vào mức độ đóng góp tương ứng của các loại hàng hoá và dịch vụ vào giá trị gia tăng. Một nhược điểm lớn của chỉ số giá này là thường được tính toán chậm hơn sơ với chỉ số giá CPI do đó có thể phản ánh trễ hơn so với diễn biến của giá trong nền kinh tế vì nó được tính toán căn cứ vào GDP thực và GDP danh nghĩa, mà kết quả thống kê của 2 hai GDP này thường được công bố trễ từ một quý đến một năm.

Do cách tính toán của 2 chỉ số giá trên khác nhau như vậy nên về mặt lý thuyết, Chỉ số giá tiêu dùng – CPI  thường phóng đại mức giá sinh hoạt. Còn chỉ số giá GDP điều chỉnh đánh giá thấp mức giá này (Chung, 2002).[2]

Do sự thiếu hoàn hảo của 2 chỉ số giá nêu trên mà nhà kinh tế học Irving Fisher đã xây dựng một chỉ số gọi là chỉ số Fisher (Fisher Index). Được tính bằng chỉ số trung bình nhân của cả chỉ số giá tiêu dùng – CPI và chỉ số giá GDP điều chỉnh (GDP Deflation).

Tóm lại, có nhiều cách để đo lường lạm phát và tuỳ thuộc vào chỉ số giá chung nào của nền kinh tế được áp dụng. Dù bằng phương pháp nào đi nữa thì cách do lường của những chỉ số giá giá này đều có những hạn chế về mặt phương pháp luận lẫn thực hành. Để hạn chế bớt những sai lầm, hạn chế trên, việc phân tích lạm phát phải dựa vào nhiều chỉ số đối chứng khác nhau và phải trong một khoản thời gian tương đối dài để tránh những nhận định mang tính thời điểm.

1.1.2 Quan điểm các trường phái kinh tế về nguyên nhân lạm phát

Về lý thuyết, giá cả hàng hoá trong nền kinh tế là giá cả cân bằng giữa tổng cung và tổng cầu hàng hoá và dịch vụ. Như vậy, một sự tăng lên liên tục của giá có thể bắt nguồn từ sự tăng lên liên tục hoặc tổng cung hoặc cả hai. Nếu giá cả tăng lên bắt nguồn từ sự tăng lên của phía cầu nhanh hơn phía cung thì gọi là lạm phát do cầu kéo (demand-pull inflation); và ngược lại nếu chi phí doanh nghiệp tăng lên do tiền lương, lãi suất, thuế hoặc giá cả đầu vào …. Khi đó tổng cung bị sụt giảm, hàng hoá thiếu hụt và làm giá tăng lên thì gọi là lạm phát do chi phí đẩy (cost-push inflation).

Trên thực tế rất khó để xác định sự tăng lên của lạm phát là do bắt nguồn từ chi phí đầy hay do cầu kéo. Một nguyên nhân khác nữa, lạm phát trong hầu hết các trường hợp là do sự kết quả tác động tổng hợp từ phía cung lẫn phía cầu. Đây chính là nguyên nhân dẫn đến sự cần thiết phải phân tích nhân tố tạo ra lạm phát ở các hướng có tính khả thi cao hơn, nhằm phục vụ tốt hơn cho công cụ hoạch định chính sách của nhà nước nhằm kiểm soát lạm phát.

Các trường phái kinh tế khác nhau thì có cách tiếp cận khác nhau khi nghiên cứu về lạm phát. Ví dụ như, có sự khác biệt giữa lạm phát trong ngắn hạn và dài hạn; lạm phát trong nền kinh tế đóng so với nền kinh tế mở; lạm phát trong cơ cấu thị trường cạnh tranh hoàn hảo hay độc quyền; lý thuyết lạm phát với giả định là thông tin hoàn hảo hay không hoàn hảo…

Trong giới hạn của luận văn này sẽ trình bày những tranh luận chính có liên quan đến lạm phát của các nhóm trường phái kinh tế vĩ mô từ cổ điển đến hiện tại. Tổng quát lại có bốn nhóm tiếp cận để giải thích lạm phát. Nhóm thứ nhất, lạm phát bắt nguồn chủ yếu là từ tiền tệ. Nhóm thứ hai, lạm phát bắt nguồn từ những nhân tố phi tiền tệ. Nhóm thứ ba, lạm phát bắt nguồn từ kỳ vọng và Nhóm thứ 4, lạm phát bắt nguồn từ các yếu tố chính trị.

Lạm phát là một hiện tượng tiền tệ

Những nhà kinh tế học Cổ điển (classical)Tân cổ điển (neo-classical)[3] sử dụng thuyết số lượng tiền (quantity theory of money) để giải thích cho lạm phát. Thuyết số lượng tiền dựa trên phương trình sau:

MV = PT                                [1.1]

Trong đó: M là khối lượng cung tiền, V là vòng quay của tiền, P là mức giá chung trong nền kinh tế và T là khối lượng giao dịch thực tế (the real volume of transaction). Lý thuyết này cho rằng tổng cung (AS) được cho trước ở mức độ toàn dụng, hay nói một cách khác là sản lượng đang ở tình trạng cân bằng trong dài hạn.

AS = Y                                   [1.2]

Với Y là tổng sản lượng thực được xác định bởi hàm sản xuất trong dài hạn. Trong khi đó tổng cầu (AD) được xác định như sau:

AD = (M.V)/P                       [1.3]

Thị trường hàng hoá và dịch vụ xảy ra khi AD = AS hay nói cách khác tổng mua (PY) phải bằng tổng chi (MV)

MV = PY                                [1.4]

Với giả định rằng V là một hằng số, bởi vì giá trị này phụ thuộc vào sự phát triển của một hệ thống tài chính và điều này không thể thay đổi trong ngắn hạn. Irving Fisher đưa thêm giả định rằng Y là một hằng số khi sản lượng đặt được ở mức toàn dụng (trong dài hạn). [1.4] có thể viết lại như sau:

P = (/)M                            [1.5]

Phương trình trên cho thấy, nếu các yếu tố khác không đổi thì một bội số tăng lên của M cũng sẽ làm P tăng lên một bội số tương ứng. Logarit hoá các giá trị trên theo cách tính giá trị xấp xỉ của tốc độ tăng (phần trăm thay đổi), ta có:

= (v-g) + m                         [1.6]

Trong đó , v, g, m là phần trăm thay đổi của P, V, Y và M, trong cách tính này thì v, g là bằng không (vì giả thuyết V, Y là không đổi ở trên), nên  = m; điều này chứng tỏ phần trăm thay đổi của giá (tỷ lệ lạm phát) sẽ đúng bằng phần trăm tăng lên của cung tiền trong dài hạn. Từ đó các nhà kinh tế học thuộc trường phái này kết luận rằng lạm phát là một hiện tượng tiền tệ.

Milton Friedman, người sáng lập ra trường phái tiền tệ (monetarism) kết luận rằng tiền đóng vai trò trung lập, người dân giữ tiền vì ngoài việc dùng tiền để trao đổi họ còn xem tiền là như một tài sản và thu nhập thường xuyên, chứ không phải là thu nhập thực, là biến số ảnh hưởng đến cầu tiền. Hay nói cách khác, việc tăng cung tiền sẽ kéo theo lạm phát trong dài hạn.

Lạm phát không phải là một hiện tượng tiền tệ          

John Maynard Keynes cho rằng lạm phát hoạt động như một cái bơm chuyển thu nhập từ những người làm công ăn lương – đây là nhóm có khuynh hướng tiết kiệm biên (marginal rate of saving) lẫn biên độ thuế (marginal tax rate) là thấp, sang khu vực doanh nghiệp – đây là nhóm có khuynh hướng tiết kiệm biên lẫn biên độ thuế cao. Như vậy, lạm phát ở đây được hiểu như là một cơ chế để tái phân phối thu nhập.

Trong những năm 1960s và 1970s cũng nổi lên những lập luận khác từ các nhà kinh tế học thuộc trường phái cơ cấu (structurallist). Ý tưởng chính của trường phái này cho rằng lạm phát bắt nguồn từ quá trình chuyển đổi cơ cấu của các khu vực trong nền kinh tế như nông nghiệp, công nghiệp, khu vực xuất khẩu …Ví dụ như sản lượng trong khu vực nông nghiệp tăng làm tăng tiền lương khu vực này trong ngắn hạn. Khi tiền lương của khu vực này tăng lên kéo theo tổng cầu về hàng hoá khu vực công nghiệp cũng tăng theo, trong khi đó khu vực này chưa kịp phản ứng hoặc có độ trễ do vậy thay vì tổng cung bên khu vực nông nghiệp tăng lên để đáp ứng sự tăng lên về phía cầu thì giá cả sẽ tăng lên trước. Quá trình này lại tiếp tục diễn ra, giá cả tăng làm tăng tiền lương khu vực nông nghiệp và một lần nữa lại làm tăng nhu cầu trong khu vực công nghiệp. Quá trình này lặp đi lặp lại như một vòng xoáy và do sự không đồng nhịp của hai khu vực là lý do tạo ra lạm phát trong nền kinh tế.

Trường phái hậu Keynes (Post-Keynesian) cũng có nhiều quan điểm khác về quá trình hình thành lạm phát. Trường phái này kết luận rằng sự biến động của giá tuỳ thuộc vào tỷ suất lợi nhuận mong muốn của Chủ Doanh Nghiệp và tiền lương thực của người làm công. Như vậy, lạm phát (giá cả tăng) biến động tuỳ thuộc vào mục tiêu lợi nhuận của doanh nghiệp, tiền lương mục tiêu của người lao động hoặc là giá tương đối giữa các yếu tố sản xuất, ví dụ như sự biến động của của tỷ giá, giá dầu …

Lạm phát là do kỳ vọng

Yếu tố kỳ vọng được đề xướng bởi các nhà kinh tế học như Robert E. Lucas, Thomas J. Sargent, Neil Wallace, Robert J. Barro và Bennett T. McCallum. Các nhà kinh tế học thuộc trường phái này đưa ra lập luận như sau, giả sử các nhà hoạch định chính sách ra thông báo sẽ gia tăng cung tiền trong nền kinh tế, lập tực người dân sẽ dự đoán rằng giá sẽ tăng mặc dù dữ liệu trong quá khứ cho thấy rằng giá cả đang có khuynh hướng giảm. Dựa trên thực tế này, nhóm nhà kinh tế này kết luận rằng, nếu thông tin là đầy đủ thì việc tăng cung tiền cũng không ảnh hưởng gì đến sản lượng thực trong ngắn hạn bởi vì giá cả sẽ tăng lên theo kỳ vọng của dân chúng.


[1] Tham khảo thêm giáo trình “Monetary Policy” của N. Gregory Mankiw, ed, một ấn phẩm của Đại HọcChicago (The University of Chicago Press) – Chương Đo Lường Lạm phát cơ bản do Michael F. Bryan, Stephen G Cecchetti biên soạn tại địa chỉ http://www.nber.org/chapters/c8333 để hiểu rõ hơn về cách tính chỉ số này.

[2]  Phạm Chung và Trần Văn Hùng,2002, Kinh tế Vĩ mô Phân tích, NXB Đại học Quốc Gia Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Nhà kinh tế học cổ điển: David Hume, Adam Smith, David Ricardo và John Stuart Mill; Nhà kinh tế học Tân cổ điển: Leon Walras, Alfred Marshall, Irving Fisher và Arthus C. Pigou.

Gửi phản hồi

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Log Out / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Log Out / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Log Out / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Log Out / Thay đổi )

Connecting to %s

%d bloggers like this: